Lưu ý biên tập: Bài viết và phần tóm tắt được AI hỗ trợ biên tập từ nội dung chia sẻ. Vui lòng đối chiếu với phụ đề gốc bên dưới hoặc xem video gốc để kiểm chứng ngữ cảnh.
Tóm tắt
Bài chia sẻ phân tích sâu sắc năm câu đầu tiên của Phúc âm Giăng, khẳng định Chúa Giê-xu chính là Ngôi Lời (Logos) mang bản thể vĩnh cửu và đồng nhất với Đức Chúa Trời. Bài chia sẻ vạch trần những ngụy biện triết học Hy Lạp và các học thuyết sai lạc nhằm hạ thấp thân vị của Ngài hoặc đồng nhất Ngài với các tôn giáo khác. Bài chia sẻ nhấn mạnh rằng Ngôi Lời đã nhập thể làm người, chịu chết trên thập tự giá để cứu chuộc nhân loại và bày tỏ vinh quang thiên thượng. Đồng thời, bài chia sẻ chỉ ra cấu trúc ngữ pháp độc đáo trong Kinh Thánh nhằm khẳng định sự sáng tạo vạn vật tuyệt đối thuộc về Đức Chúa Trời. Cuối cùng, bài chia sẻ kêu gọi tín đồ từ bỏ cái tôi ích kỷ để hoàn toàn quy phục quyền cai trị tối cao của Ánh Sáng thật trong đời sống đức tin hằng ngày.
Ngôi Lời trong Phúc âm Giăng
Phúc âm Giăng mở đầu bằng lời xác quyết: “Ban đầu có Ngôi Lời. Ngôi Lời ở với Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời.” Trong năm câu đầu, Giăng đặt nền cho lời chứng của mình về Chúa Giê-xu: Ngài hiện hữu trước muôn vật, có tương giao với Đức Chúa Trời, mang trọn bản thể Đức Chúa Trời, là Đấng tạo dựng và là nguồn sự sống, ánh sáng.
“Logos” không chỉ là một nguyên lý triết học
“Logos” là từ quen thuộc trong triết học Hy Lạp, nơi nó có thể chỉ lý trí, quy luật hay nguyên lý chi phối vũ trụ. Giăng dùng một từ mà độc giả Hy Lạp có thể hiểu, nhưng đặt nó trong lời chứng Kinh Thánh: Ngôi Lời không phải một nguyên tắc vô nhân vị. Ngài là Chúa Giê-xu, Đấng có tương giao, hành động, yêu thương và cứu chuộc.
Việc một tác giả Kinh Thánh trích dẫn một nguồn khác cũng không có nghĩa là tác giả xác nhận mọi điều trong nguồn ấy. Kinh Thánh ghi lại lời của Sa-tan và con rắn, Giu-đa nhắc đến Hê-nóc, còn Phao-lô trích dẫn thi ca Hy Lạp tại A-rê-ô-pa-gơ. Những trích dẫn ấy phục vụ lập luận của từng đoạn; chúng không tự động biến nguồn được trích dẫn thành nền tảng chân lý. Vì vậy, cần đọc lời trích dẫn trong bối cảnh và theo mục đích của tác giả.
Điểm khác biệt căn bản là Logos trong triết học Hy Lạp thường là một nguyên lý trừu tượng, còn Ngôi Lời trong Phúc âm Giăng đã trở nên xác thịt. Ngài bước vào lịch sử, chịu khổ và chịu chết để ban sự sống. Giăng không mượn triết học Hy Lạp làm nền cho Phúc âm; ông dùng ngôn ngữ quen thuộc để bày tỏ Chúa Giê-xu theo lời chứng Kinh Thánh.
Ngôi Lời hằng hữu, ở với Đức Chúa Trời và là Đức Chúa Trời
Ba vế trong Giăng 1:1 cần được giữ cùng nhau. “Ban đầu có Ngôi Lời” đặt Ngài trước công cuộc sáng tạo. Câu này gợi lại Sáng Thế Ký 1:1, nhưng Giăng không kể Ngôi Lời như một tạo vật xuất hiện ở thời điểm khởi đầu. Người chia sẻ nhấn mạnh rằng khi muôn vật bắt đầu hiện hữu, Ngôi Lời đã có và vẫn hiện hữu.
“Ngôi Lời ở với Đức Chúa Trời” nói đến sự tương giao và phân biệt giữa Ngôi Lời với Đức Chúa Cha. Hai Ngôi không phải một Ngôi duy nhất thay đổi ba vai trò hay mang ba mặt nạ. “Ngôi Lời là Đức Chúa Trời” đồng thời khẳng định thần tính trọn vẹn của Ngài. Phân biệt Ngôi Cha và Ngôi Con không có nghĩa là hạ thấp bản thể của Chúa Giê-xu.
Điều này cũng giúp phân biệt bản thể với chức vụ. Trong sứ mạng cứu chuộc, Chúa Giê-xu được Cha sai đến và vâng phục Cha. Sự vâng phục ấy nói về vai trò của Ngài trong sứ mạng, không phủ nhận lời khẳng định của Giăng về thần tính của Ngài. Các ví dụ như vua và hoàng tử, hay mặt trời, ánh sáng và nhiệt, chỉ giúp hình dung một phần; không ví dụ nào diễn tả trọn vẹn giáo lý Ba Ngôi.
Muôn vật được tạo dựng qua Ngài
Giăng 1:3 khẳng định rằng muôn vật được tạo dựng qua Ngôi Lời, rồi nhấn mạnh rằng không một tạo vật nào hiện hữu ngoài Ngài. Cách nói khẳng định và phủ định khóa lại mọi ngoại lệ: Ngôi Lời không đứng trong hàng ngũ tạo vật, nhưng là Đấng qua Ngài muôn vật được dựng nên. Công cuộc sáng tạo bày tỏ sự hiệp nhất trong hành động của Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.
Vì thế, Chúa Giê-xu không phải một công cụ hay một tạo vật được Đức Chúa Trời dùng để tạo nên phần còn lại của vũ trụ. Theo lập luận của bài giảng, Giăng 1:3 đặt Ngài ở phía Đấng Tạo Hóa. Đây cũng là lý do người đọc cần kiểm tra cách giải nghĩa Kinh Thánh trong toàn bộ mạch văn, thay vì dùng một câu riêng lẻ để dựng nên kết luận trái với lời chứng chung của bản văn.
Ngôi Lời trở nên xác thịt
Giăng 1:14 tiếp nối lời mở đầu bằng tuyên bố Ngôi Lời đã trở nên xác thịt và ở giữa chúng ta. Cụm từ “ở giữa” gợi hình ảnh dựng lều, liên hệ đến Lều Hội Kiến trong Cựu Ước, nơi dân sự gặp gỡ sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Trong Chúa Giê-xu, con người nhìn thấy vinh quang, ân điển và chân lý của Đức Chúa Trời.
Sự nhập thể cũng bác bỏ quan niệm xem thân xác và thế giới vật chất chỉ là điều thấp kém cần thoát khỏi. Ngôi Lời không chỉ xuất hiện như một ảo ảnh: Ngài thật sự bước vào đời sống con người. Thư thứ nhất của Giăng nhắc đến lời chứng của những người đã nghe, thấy và chạm đến Ngài; thư ấy cũng dùng việc xưng nhận Chúa Giê-xu đã đến trong xác thịt làm tiêu chuẩn để phân định lời dạy.
Sự sống, ánh sáng và bóng tối
“Trong Ngài có sự sống, và sự sống là ánh sáng cho loài người.” Sự sống trong lời chứng của Giăng vượt quá sự tồn tại sinh học; đó là sự sống đến từ Đức Chúa Trời. Ánh sáng bày tỏ chân lý và giúp con người nhận biết Đức Chúa Trời. Ánh sáng ấy bắt nguồn từ Ngôi Lời, chứ không phải một nguồn giác ngộ tự thân ẩn bên trong mỗi người.
Giăng nói ánh sáng chiếu trong bóng tối, nhưng bóng tối không tiếp nhận ánh sáng. Bài giảng lưu ý hai sắc thái của câu này: con người có thể không nhận biết ánh sáng, nhưng bóng tối cũng không thể dập tắt ánh sáng. Đây không phải cuộc chiến giữa hai quyền lực ngang sức. Đức Chúa Trời là Đấng tối cao; bóng tối không có quyền lực ngang hàng với Ngài.
Vì vậy, câu “ánh sáng cho loài người” không có nghĩa mọi người tự nhiên tiếp nhận Chúa Giê-xu hay mọi con đường đều dẫn đến cùng một sự cứu rỗi. Theo mạch lập luận của bài giảng, ánh sáng bày tỏ Chúa Giê-xu, còn phản ứng của con người trước ánh sáng có thể khác nhau.
Đáp lại ánh sáng
Giăng 1:1–5 mời người đọc không chỉ trả lời Chúa Giê-xu là ai, mà còn xét lại điều gì đang giữ vị trí trung tâm trong đời sống. Nếu Ngôi Lời là Đấng hằng hữu và là nguồn sự sống, người tin được kêu gọi bước ra khỏi những điều đang che giấu, tiếp nhận sự sửa dạy của Ngài và sống dưới quyền cai trị của Chúa Giê-xu.
Câu hỏi suy ngẫm
Nếu Ngôi Lời là Đấng hằng hữu và là Đấng tạo dựng muôn vật, điều đó định hình cách tôi sống và lập kế hoạch ra sao?
Có điều gì trong suy nghĩ hay hành động mà tôi đang né tránh ánh sáng của Đấng Christ không?
Tôi đang tìm Chúa Giê-xu chỉ vì điều Ngài ban, hay cũng sẵn lòng sống dưới quyền cai trị của Ngài?
Đọc phụ đề gốc
Cảm ơn Thượng Đế, cảm ơn cho chúng con a bắt đầu với Phúc Âm Giăng. Xin Thánh Linh của Ngài soi sáng lòng, tâm trí của chúng con a để chúng con nhận biết Ngài là Cha, là Đức Chúa Trời vĩnh cửu. A xin cho lời của Ngài a vừa thôi thúc, a vừa a thúc đẩy lòng của chúng con, a cho chúng con a có cái nhìn sâu sắc, đúng đắn và trọn vẹn a về chính Ngài a để tôn vinh Ngài. A chúng con là những tạo vật a trong sự sáng tạo của Đức Chúa Trời a và may mắn của chúng con a được Cha lựa chọn a trong nước của Ngài. A xin hãy tiếp tục hướng dẫn và giữ vững lòng của chúng con trong hành trình này, a trong sự học hỏi này a và trong a đời sống đức tin của chúng con a mỗi ngày. Con muốn nói lời biết ơn Cha, con cảm tạ và cầu nguyện cho cả một điều có tên Jesus.
Amen. Ok. Giăng chương 1 từ câu 1. Ban đầu có Ngôi Lời. Ngôi Lời ở với Đức Chúa Trời. Và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời.
Từ ban đầu, Ngài ở với Đức Chúa Trời. Muôn vật đều do Ngài tạo dựng. Không một loài thọ tạo nào được tạo dựng mà không bởi Ngài. Trong Ngài có sự sống, sự sống là ánh sáng cho loài người. Ánh sáng soi trong bóng tối, nhưng bóng tối không tiếp nhận ánh sáng. Năm câu đầu tiên đặc biệt quan trọng.
Ban đầu có Ngôi Lời. Ngôi Lời ở với Đức Chúa Trời và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời, đó là câu 1. Giăng chọn chữ Logos là Ngôi Lời. Đây là một từ rất là phổ biến, nổi tiếng trong triết học Hy Lạp. À một số ngụy biện khi mà diễn giải sách Văn à cho rằng Văn à đang ủng hộ triết học Hy Lạp, à dùng triết học Hy Lạp và coi triết học Hy Lạp như là một nền tảng rất là chắc chắn. Bởi vì Văn sử dụng mà.
Thì rõ ràng đó có một cái điểm gì đó vô cùng đặc biệt. Tuy nhiên đây là một trong những ngụy biện à diễn giải Văn sử dụng chữ chữ logos trong triết học Hy Lạp nói về quy luật của vũ trụ, nguyên lý của vũ trụ, đó là ý nghĩa của chữ logos. Đó là quy luật, đó là nguyên lý giống như trong a châu Á, Á Đông thì hay à dùng chữ đạo, đúng không? Đạo trời, ví dụ như vậy. Và coi đó là chân lý. Văn mượn vỏ ngôn ngữ chứ không phải là sử dụng ý nghĩa của ngôn ngữ trong triết học Hy Lạp để diễn giải về Thượng Đế.
Nên đây cũng là điểm mà Hùng đã có chia sẻ với mọi người à lần trước về à việc à mà chúng ta cũng phải cẩn thận khi mà chúng ta à phải phân biệt giữa trích dẫn sự thật trích dẫn và nội dung trích dẫn. Hai cái điều đó khác nhau. Ví dụ, Satan trích dẫn một đoạn Kinh Thánh, đúng không? Hay là con rắn nói với lại Eva. Kinh Thánh ghi lại sự thật về các trích dẫn đó, nhưng không có nghĩa những điều đó là chân lý. Phân biệt điều đó.
Đó là sự thật của Kinh Thánh đã trích dẫn đúng đắn điều mà Satan nói, điều mà những người này người kia nói. Đó là sự Kinh Thánh mô tả chính xác một cái thực tế là người ta hay là con rắn, hay là Satan có nói điều đó. Nhưng không có nghĩa là điều đó là chân lý. Phân biệt điều đó rất là rõ ràng. Nên rất là nhiều người nhầm lẫn. Và dùng cách đọc Kinh Thánh hoặc là nghiên cứu Kinh Thánh là trích dẫn, trích đoạn tùy tiện để mà xây dựng thông điệp hoặc là xây dựng giáo lý thì phải vô cùng cảnh trọng, bởi vì có khi chúng ta đang trích dẫn một điều không đúng.
Và một trong những cái ngụy biện rất nổi tiếng ở trong cái trường hợp này đó là gì? À sách Giu-đa trích dẫn à sách Hê-nóc. Và bởi vì Giu-đa có trích dẫn sách Hê-nóc. Cái này được kiểm chứng trong lịch sử và người ta cho rằng vậy, sách Hê-nóc cũng có thẩm quyền tương đương với Kinh Thánh, bởi vì Giu-đa có trích dẫn. Và trong lúc Phao-lô giảng ở đồi Hỏa Thành, đó là đồi A-rê-ô-pa-gơ, đúng không? Thì Phao-lô cũng trích dẫn văn chương Hy Lạp.
Nhưng không có nghĩa cái điều đó là chân lý. Mục đích của trích dẫn để làm rõ một cái ý định thần học của tác giả thì không có nghĩa điều đó là chân lý. Mình phân biệt giữa sự thật trích dẫn và nội dung của sự trích dẫn có phải là chân lý hay không? Hai đó là điểm mà chúng ta cần phải cảnh trọng để phân biệt khi mà chúng ta đọc và nghiên cứu Kinh Thánh. À nên khi chúng ta đọc Kinh Thánh, đọc tổng thể. Quay trở lại trong sách Giăng, Giăng dùng chữ logos trong triết học Hy Lạp không có nghĩa là triết học Hy Lạp là chân lý.
Nên chúng ta cần phải cảnh trọng với điều đó. Nên rất là nhiều người dùng triết học khắc kỷ, triết học Hy Lạp à cổ xưa, những quyển sách cổ của Hy Lạp về triết học để làm nền tảng của đạo đức. Và ngày nay à có nhiều sách đã dịch ra tiếng Việt về à chủ nghĩa khắc kỷ. Tức là những người này sùng bái đạo đức và nỗ lực tự thân để sống đạo đức. Và người ta coi đó là chân lý của các triết gia Hy Lạp. Nên chúng ta phải rất là cẩn thận.
Giăng dùng chữ Logos là cái mượn cái hình ảnh của cái chữ này để nói về một điều rất là đặc biệt, đó là Chúa Giêsu. Bởi vì trong triết học Hy Lạp, chữ Logos là phi nhân vị. Có nghĩa là gì? Đó là một một quy luật, không phải là con người, đúng không? Quy tắc vũ trụ chứ không phải là con người. Thì đó là triết học Hy Lạp, nhưng mà Giăng dùng cái ngôn ngữ này khi độc giả của Giăng trong Phúc Âm Giăng à là những người Hy Lạp, là những người ngoại, thì Giăng sử dụng cái ngôn ngữ này để giao tiếp với họ, nhưng mà đã đẩy cái chữ Logos này có ý nghĩa thần học cao rất là cao, cao cả và thiêng liêng, là nói về Chúa Giêsu.
Vì nếu Phúc Âm Giăng mà dạy về Logos theo kiểu đa thần giáo à trong Hy Lạp, thì Roma đã rất là vui vẻ tiếp nhận Chúa Giêsu. Đúng không? Bởi vì Chúa Giêsu cũng là một thần trong rất nhiều thần của Hy Lạp lúc này. Mà chữ Logos bình thường như là triết gia Hy Lạp hay nói và phổ biến, thì họ đã rất là cởi mở với Giêsu. Đằng này, Giêsu và những người thừa nhận Chúa Giêsu bị đuổi ra khỏi nhà hội và bị khủng bố. Phúc Âm Giăng nói về Logos khác với lại Logos trong triết học Hy Lạp, triết học khắc kỷ, hoặc là đây là một khái niệm trừu tượng của triết học Hy Lạp à nói về một quy luật của vũ trụ, nguyên lý của vũ trụ, vô nhân tính, tức là không có nhân vị, chỉ là một cái nguyên tắc trừu tượng à do các a gia à đặt ra.
Không có ý chí, không có tự do, không có tình yêu thương, à không có lòng thương xót, cũng không có mục đích cứu rỗi, nó chỉ là một nguyên tắc. Nhưng mà Giăng dùng từ này để phá vỡ thế giới quan của triết học Hy Lạp. Logos trong triết học là một ý nghĩa trừu tượng. Nhưng mà trong thần học của Giăng có ý nghĩa thiên thượng chính là Chúa Giêsu, là Đức Chúa Trời. Nguyên lý của triết học Hy Lạp khi mà họ sử dụng chữ Logos đó chỉ là một cái công cụ, đúng không? Một nguyên tắc để xây dựng đời sống, một quy luật để à xây dựng phẩm hạnh và phẩm chất đạo đức của con người.
Nhưng chữ Logos trong thần học của Giăng đó chính là Chúa Giêsu, có cùng bản thể với Đức Chúa Trời và là chính Đức Chúa Trời. Logos trong triết học Hy Lạp không bao giờ nhập thể, nhưng Logos trong thần học của Giăng nhập thể và trở nên xác thịt. Thánh kinh à Phúc Âm Giăng dùng chữ xác thịt, chứ không phải là trở thành con người. À trong ngôn ngữ gốc đó là trở nên xác thịt, chứ Giăng không sử dụng chữ là trở thành con người chung chung. Trở nên xác thịt thì cái ý nghĩa thần học của nó là gì? Mong manh và yếu đuối.
Trong triết học Hy Lạp thì Logos dẫn dắt linh hồn cố gắng thoát cái đời sống của mình bằng tri thức. Nhưng mà Logos trong thần học của Giăng chịu chết trên thập tự giá để ban sự sống cho con người. Và Giăng chương 1 câu 14 là điều mà triết học Hy Lạp à rất là kinh ngạc và đập tan mọi cái tư duy của họ. Trong câu 14 mà mọi người đọc ha. Chương 1 câu 14. Ngôi Lời đã trở nên xác thể sống giữa chúng ta đầy ân điển và chân lý.
Chúng ta đã chiêm ngưỡng vinh quang Ngài thật là vinh quang con một đến từ nơi Cha. Trong quan niệm của triết học Hy Lạp Logos không bao giờ trở thành người bởi vì trong tư tưởng của họ, người hoặc là mang cái xác thịt đó là điều xấu xí, xấu xa bởi vì cái nhị nguyên luận của họ tức là thế giới có hai nửa, một nửa thiêng liêng và thần thánh, một nửa trần tục và trần tục là dơ bẩn, là bẩn thỉu do đó lý do họ muốn thoát khỏi cái điều đó bằng tri thức. Và ngược lại thần học của dân ngôi lời lại trở thành xác thịt. Đúng không? Ngược lại với cái điều mà họ nghĩ. Và đây chính là một trong những cái tuyên bố rất là mạnh mẽ của thần học dân về Chúa Giêsu khiến cho người ta thực sự không thể tưởng tượng được.
Chúa Giêsu đã trở nên xác thịt, đi vào lịch sử, có thể nghe thấy và chạm được. Mọi người sẽ để ý một chút đúng không? Sinh dân có đề cập đến một vài cái từ ngữ như là chúng ta đã chiêm ngưỡng vinh quang của Ngài. Và nếu mọi người đọc trong sách dân thứ nhất thư dân đó, mọi người sẽ nhìn thấy là tôi, chúng tôi đã sờ đã nghe đã thấy. Mục đích là bởi vì dân đang lên án một cái trường phái thần học đó là gì? Đề cao tuyệt đối thần tính của Chúa Giêsu và không thừa nhận Chúa Giêsu là xác thịt tức là ngôi lời trở nên xác thịt.
Chúa Giêsu chỉ là một ảo ảnh nên trong thư của dân viết là chúng tôi nghe chúng tôi thấy chúng tôi sờ tức là dân trong thư và trong phúc âm dân thể hiện một cái là gì? Trở nên xác thịt để có thể chạm và sờ và nghe thấy. Và dân nói là những ai mà không thừa nhận Chúa Giêsu đến trong xác thịt, thì đó là những kẻ chống lại Đức Chúa Trời. Nên, những người tin vào Chúa Giêsu, nhưng không tin vào Ngài trở nên xác thịt là con người 100%, đó là những kẻ chống Chúa, dù miệng mình nói Chúa Giêsu là Chúa, là Đức Chúa Trời, nhưng không tin vào việc mà Chúa Giêsu trở nên xác thịt 100% là con người, thì Giăng gọi là kẻ chống Chúa, Antichrist, ở trong lá thư của Giăng. Thì mọi người đọc trong Giăng thứ nhất, mọi người sẽ nhìn thấy cái điều đó. Logos trong Giăng cắm rễ sâu xa vào truyền thống Kinh Thánh Cựu Ước, chứ không phải là trong triết học Hy Lạp như là nhiều ngụy biện nói, à Giăng sử dụng triết học Hy Lạp làm nền tảng.
Đúng, Giăng sử dụng ngôn ngữ để truyền giáo, chứ không phải lấy ý nghĩa từ đó làm nền tảng. Giăng vọng lại trực tiếp trong Sáng Thế Ký chương 1 câu 1, từ ban đầu. Đúng không? Mình đọc lại cái đoạn Kinh Thánh quan trọng, đúng không? Tương ứng với Giăng 1 trong Sáng Thế 1:1. Ban đầu, Đức Chúa Trời sáng tạo trời và đất.
Và Giăng chữ sử dụng lại chữ ban đầu, có ngôi lời. Giăng sử dụng lại cái từ này. Có một điểm khác nhau ở trong ngữ pháp của sách Sáng Thế chương 1 và trong sách Giăng, ban đầu có ngôi lời. Sự khác nhau về ngữ ngữ pháp. Ban đầu có ngôi lời, trong sách Giăng, Phúc Âm Giăng sử dụng, đây là thì quá khứ tiếp diễn, có nghĩa là gì? Ban đầu có ngôi lời, cái ngữ pháp của từ ngữ này diễn tả cái ý nghĩa là gì?
Đã có và đang hiện hữu Đức Chúa Trời. Ngôi Lời. Còn chữ ban đầu trong sách Sáng Thế chương 1 câu 1 dùng thì quá khứ đơn có nghĩa là có thời điểm. Còn chữ ban đầu của sách Phúc Âm Giăng đó là gì? Ban đầu có Ngôi Lời thì cái ngữ pháp của cái chữ ban đầu này là thì quá khứ tiếp diễn có nghĩa là gì? Ban đầu đã và đang tồn tại Ngôi Lời rồi.
Tức là không có điểm khởi đầu. Còn trong chữ ban đầu của Sáng Thế 1 1 là có điểm khởi đầu. Ban đầu Thượng Đế sáng tạo nên trời và đất có nghĩa là Thượng Đế sáng tạo nên vạn vật có điểm khởi đầu. Còn ban đầu nói về Chúa Jesus, nói về Ngôi Lời không có điểm khởi đầu, đó là sự khác nhau. Điều này chứng tỏ thần tính thiêng liêng của Chúa Jesus chính là Đức Chúa Trời. Mọi người hiểu cái ý chỗ này không?
Hiểu chưa? Chưa hiểu hả? Mình có hai chữ ban đầu nhưng mà ngữ pháp khác nhau. Ban đầu Thượng Đế sáng tạo nên trời và đất thì cái ban đầu này ở thì quá khứ đơn có thời điểm rõ ràng. Đó là thời điểm ban đầu. Còn chữ ban đầu trong Phúc Âm Giăng sử dụng ban đầu có Ngôi Lời dùng ở thì quá khứ tiếp diễn thì cái nghĩa khi mà sử dụng ngữ pháp của cái từ này có nghĩa là gì?
Ban đầu dịch chính xác đúng là gì? Ban đầu đã và đang có Ngôi Lời. Tức là gì? Cái thời điểm ban đầu đó thì Chúa Jesus đã tồn tại rồi và vẫn đang hiện hữu. Còn ban đầu trong Sáng Thế 1 1 Thượng Đế tạo nên trời và đất có nghĩa là gì? Trước đó không có trời và đất.
Ngay thời điểm đó, cụ thể cái mốc đó, trời và đất xuất hiện. Mọi người hiểu rồi ha. Ok. Đó là cái chi tiết rất nhỏ, nhưng mà vô cùng quan trọng, nói về thần tính của ngôi lời, của Chúa Giêsu. Sự khác biệt về thì thôi, nhưng mà diễn tả rất khác nhau về ý nghĩa thần học. Rồi, ngôi lời ở với Đức Chúa Trời.
Đôi khi mình chỉ nghĩ và ở, tức là ở cùng. Nhưng từ người này nghĩa gốc của nó là hướng về, mặt đối mặt với Đức Chúa Trời. Câu này phân biệt rõ ngôi lời và Đức Chúa Trời Cha là hai ngôi vị tách biệt hoàn toàn. Tách biệt thì mới ở với và mặt đối mặt. Điều này phản bác lại có một thuyết gọi là thuyết nhất thần luận, có nghĩa là chỉ có một thần, là một Đức Chúa Trời, nhưng mang ba cái mặt nạ. Chúa Giêsu, Thánh Linh và Đức Chúa Trời Cha.
Tức là một thần nhưng ba mặt nạ. Nhưng mà đây là đoạn Thánh Kinh làm rõ có hai thân vị hoàn toàn tách biệt, ở cùng với nhau, mặt đối mặt, chứ không phải là một nhân vị mang ba cái mặt nạ. Mọi người thấy sự khác biệt không? Và có mối tương giao mật thiết từ ban đầu, như từ nãy ý nghĩa Hùng giải thích, tức là từ trước vô cùng, không có điểm khởi đầu. Và ngôi lời là Đức Chúa Trời. Đây là đoạn Thánh Kinh mà Nhân Chứng Giêhôva sử dụng à để nói ngôi lời như là một tạo vật của Đức Chúa Trời.
Hùng ví dụ để cho mọi người có thể dễ hiểu cái chỗ này. Khi mà ngữ pháp trong cái đoạn này văn sử dụng không có à nói cái từ dùng cái từ trong cái tiếng Hy Lạp à là ví dụ để Hùng nói cho mọi người có thể dễ hiểu. Vua là hoàng tử. Nó sẽ khác với lại chính nhà vua là hoàng tử. Mọi người thấy khác nhau không? Vua là hoàng tử.
Và văn sử dụng cái cấu trúc ngữ pháp này để nhấn mạnh tới hoàng tử tách biệt với vua nhưng mà có cùng bản chất thiêng liêng giống như vua. Ok? Rồi cái từ thứ hai chính nhà vua là hoàng tử. Thì khi mà mình nghĩ tới là chính nhà vua là hoàng tử có nghĩa là hai người là một. Đúng không? Chính nhà vua là hoàng tử.
Thì có nghĩa là mình đang nói tới một người chứ mấy. Chính nhà vua là hoàng tử thì mình đang nói tới chỉ một người mà thôi. Phải không? Và văn không dùng cấu trúc ngữ pháp này. Văn dùng cấu trúc ngữ pháp nhà vua là hoàng tử để nhấn mạnh tới cái sự tách biệt hoàn toàn giữa vua và hoàng tử. Nhưng mà cả hai mang cùng một bản thể thiêng liêng.
Và văn dùng cấu trúc ngữ pháp này. Nhưng mà cấu trúc ngữ pháp thứ hai bị suy diễn và diễn giải không đúng nên mới dẫn ra chính nhà vua là hoàng tử. Đó là thuyết nhất luận như Hùng đã nói từ nãy tức là chỉ có một thần nhưng mà mang ba cái mặt nạ khác nhau. Chính nhà vua là hoàng tử. Có nghĩa là mình đang nói tới một người chứ mấy. Nhưng nhà vua là hoàng tử.
Thì chúng ta đang nói tới đây cái cấu trúc ngữ pháp nhấn mạnh tới bản thể thiêng liêng của hoàng tử. Và hoàng tử và bản thể thiêng liêng đó tách biệt hoàn toàn khỏi nhà vua, tức là hai người khác nhau. Nhưng là một. Thì đây là một trong những điều mà khó hiểu nhất về thuyết ba ngôi. À nhưng mà khi mà chúng ta hiểu cái điều này, chúng ta sẽ nhìn thấy và điều tuyệt đẹp ở trong ba ngôi nhất thể là như vậy. Hoàng tử mang trọn vẹn bản chất, quyền uy, phẩm chất cao quý của vị vua.
Nhưng không có nghĩa là hoàng tử là vua. Đúng không? Nhưng mà cái ý thứ hai và chính nhà vua là hoàng tử thì chúng ta đang nói tới một người. Và điều này phản bác thuyết nhất thể, tức là chỉ có một Chúa mang ba cái mặt nạ khác nhau. Điều đó là điều không đúng về thần học, về Đức Chúa Trời ba ngôi trong Kinh Thánh. Mình sẽ đọc song song Giăng 1:1 và Giăng 1:14 từ nãy để mình sẽ thấy được về giáo lý về Chúa ba ngôi, về Đức Chúa Trời nhập thể.
Giăng chương 1:1, đó là ban đầu có ngôi Lời bằng và Giăng 1:14, ngôi Lời đã trở nên xác thịt. Tức là gì? Từ bản thể vĩnh cửu và thiêng liêng, ngôi Lời trở thành xác thịt. Và từ nãy ông có giải thích chữ Thánh Kinh dùng chữ xác thịt chứ không dùng chữ con người. Điều này mang tính đột phá và gây ngạc nhiên cho triết học Hy Lạp lúc đó, bởi vì con người con người là điều mà các triết gia hoặc là thuyết nhị nguyên coi thường và xem thường. Nhưng ngôi Lời lại trở nên xác thịt.
Ngôi Lời ở với Đức Chúa Trời. Và trong a Giăng 1:14, ngôi Lời ở giữa chúng ta, nhưng mà chữ ở giữa đó là cái nghĩa gốc của nó là từ cắm lều. Ở giữa. Nói về sự tin tương giao thiên thượng đến với việc mà Chúa ngự ở giữa con người. Điều này cho chúng ta liên hệ tới hình ảnh cựu ước, đó chính là lều tạm. Lều tạm chính là hình ảnh của Chúa Jesus ở trên đất để con người có thể nhìn ngắm được vinh quang của Đức Chúa Trời.
Nên chúng ta sẽ không đọc cựu ước như là những câu chuyện thú vị à với cái bối cảnh của nó để rút ra những bài học đạo đức. Bởi vì trong sách Luca nói mọi lời tiên tri nói đều nói về ta. Nên khi chúng ta đọc cựu ước, chúng ta phải đọc theo hướng là gì? Tất cả những hình ảnh của cựu ước đều hướng về Chúa Jesus. Nên ngôi lời ở giữa chúng ta, thì ở đây là chữ cắm lều, thì ý nghĩa của nó là dựng lều, là lều tạm, là nơi mà con người có thể gặp Chúa Jesus, gặp vinh quang của Đức Chúa Trời tại đó và qua Chúa Jesus, chúng ta thấy được vinh quang của Đức Chúa Trời. Và ngôi lời là Đức Chúa Trời.
Trong 1:14 thì nói là chúng tôi đã ngắm nhìn vinh quang của Ngài. Tức là từ thần tính vô hình, đúng không? Đức Chúa Trời vô hình và được bày tỏ qua thân xác là Chúa Jesus thì chúng tôi nhìn ngắm được vinh quang, tức là nhìn thấy được vinh quang của Đức Chúa Trời nơi Chúa Jesus. Đây là sự đan cài rất là tuyệt vời, rất là đẹp của văn 1:1 với lại văn 1:14, nói về sự nhập thể của Chúa Jesus mà con người có thể nhìn ngắm được vinh quang của Đức Chúa Trời qua chính Chúa Jesus. Và khi mọi người đọc trong sách Giăng thư Giăng 1 cũng lặp lại như vậy. Mọi người đọc Giăng 1 ha.
Thư Giăng 1. Giăng thư Giăng thứ nhất chương 1. Nói về lời sự sống là điều đã có từ ban đầu. Điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến. Đây là thư tín của Giăng, thư thứ nhất của Giăng chương 1 để cảnh báo về nhóm à ngộ đạo nói về Chúa Giêsu chỉ là một ảo ảnh. Nhưng mà Giăng nói là chúng tôi đã nhìn thấy, chúng tôi đã sờ, chúng tôi đã chạm.
Giăng 1 câu 4 1 3. Giăng 1 chương 4. Giăng thứ nhất chương 4. Thưa anh em yêu dấu, đừng tin tất cả các thần linh, nhưng hãy thử xem các thần linh đó có phải đến từ Đức Chúa Trời không? Vì có nhiều kẻ tiên tri giả đã xuất hiện trong thế gian. Bởi điều này anh em nhận biết Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
Thần linh nào thừa nhận Đức Chúa Giêsu đã đến trong thân xác thì thần linh đó đến từ Đức Chúa Trời. Thần linh nào không thừa nhận như thế về Đức Chúa Giêsu thì không phải đến từ Đức Chúa Trời. Đó là thần linh của kẻ chống Đấng Christ mà anh em nghe nói sắp đến và bây giờ đã ở trong thế gian. Thư thứ nhất của Giăng cảnh báo cho những người cho những niềm tin không tin vào à đúng không? Việc mà Chúa Giêsu trở thành người hoàn toàn 100%. Tức là cũng không tin những người cũng tin vào Chúa Giêsu chỉ là thân xác 100% cũng không tin vào thần tính của Chúa Giêsu.
Và đây là lời cảnh báo cho những người không tin. Và có một cái học thuyết à về thần ừm trong cái ngôn ngữ thần học Hùng cũng không biết từ nào dịch cho hay hơn gọi là thần khí khi mà họ nói về Đức Thánh Linh. Có một loại thần học à mà chính Hùng cũng a học à và Hùng cũng phản bác cái điều này. Nó chính là gì? Thánh Linh của Thượng Đế hiện hữu trong mọi tôn giáo. Bằng một cách nào đó thì Thánh Linh của Chúa làm việc ở trong cái tôn giáo đó.
Và rồi thì mọi người sẽ được cứu rỗi. Tất cả mọi người đều được cứu. Bởi vì Thánh Linh của Thượng Đế làm việc ở khắp mọi nơi. Và điều này sẽ không thể trụ với cái cái đoạn Kinh Thánh này. Đúng không? Những ai không tin vào Chúa Giêsu trong thân xác thì Thánh Linh thần linh của Đức Chúa Trời không ở trong người đó.
Ừm. Nên chúng ta không thể đánh đồng rằng mọi tôn giáo đều dẫn tới sự cứu rỗi. Bởi vì nếu họ đầu tiên, họ không tin vào Chúa Giêsu đến trong thân xác và không tin vào thần tính của Chúa Giêsu thì không thể nói sự cứu rỗi sẽ đến với họ bằng một cách nào đó dù là triết học hay là lập luận hay là lý luận của họ. Bởi vì à thư Giăng nói rất là rõ, những người đã không thừa nhận điều này thì thần linh Nè, thần linh nào không thừa nhận như thế về Đức Chúa Giêsu thì không phải đến từ Đức Chúa Trời. Và đây là cách để chúng ta phân biệt được à không phải tất cả mọi tôn giáo đều dẫn đến sự cứu chuộc và không phải tất cả mọi người đều dẫn đến sự cứu chuộc và điều này mâu thuẫn với Phúc Âm Giăng chương 14. Thánh Kinh Chúa Giêsu, chính Chúa Giêsu nói Thánh Linh sẽ dẫn các con đến với chân lý.
Và ai là chân lý? Chúa Giêsu là chân lý. Nên ai xưng rằng tôi có Thánh Linh nhưng mà không dẫn đến với Chúa Giêsu thì họ không bao giờ thuộc về Đức Chúa Trời. Và Giăng gọi đó là kẻ phản Chúa, Antichrist là con cái của ma quỷ bởi vì họ chối bỏ thực tại nhập thể của Chúa Giêsu. Mình qua câu hai. Mình sẽ thấy sự lặp lại lần nữa.
Từ ban đầu Giăng lặp lại ha, ngay trong câu hai, hai lần lặp lại, Ngài ở với Đức Chúa Trời. Mình tưởng đây là câu dư thừa, lặp lại, chèn thêm của những người biên tập nhưng mà không phải, điều này càng nhấn mạnh về thần tính của Chúa Giêsu. Ở cùng với Đức Chúa Trời chứ không phải Chúa Giêsu và Đức Chúa Trời chỉ có một thần mang hai cái mặt nạ khác nhau. Đây là hai thân vị riêng biệt. Đức Chúa Trời Cha, Cha không phải là Đức Chúa Trời Con. Đức Chúa Trời Con không phải là Đức Chúa Trời Cha.
Nhưng Đức Chúa Trời Con là Thượng Đế. Đức Chúa Trời Cha là Thượng Đế. Và hiện tại à một ví dụ gần nhất à phổ biến nhất à đó là mặt trời, ánh sáng và nhiệt độ. Đó là các mô phỏng kinh điển trong lịch sử khi mà giải thích về Ba Ngôi Thiên Chúa. Mặt trời nhiệt độ của mặt trời và ánh sáng của mặt trời ba điều khác nhau. Nhưng mà cả ba thể hiện ra một cái sự đồng nhất.
Đúng không? Ánh sáng của mặt trời, nhiệt độ của mặt trời và chính mặt trời rất khác nhau, nhưng cả ba thể hiện. Thì đó là một cái ví dụ và bây giờ người ta vẫn chưa tìm thấy được một cái ví dụ nào hoàn hảo để mô tả được với điều này. Cái ví dụ đó là một ví dụ kinh điển nhất. À hình hy vọng rằng một cách nào đó Thánh Linh sẽ giúp cho một ai đó có thể nghĩ ra được một cái minh họa nào đó tuyệt vời để có thể làm rõ nhất cái ý nghĩa này. Chứ trong hiện tại thì trong lịch sử thần học à chưa có cái ví dụ nào à nó nó nó nó nó kinh điển hơn cái ví dụ này một cách rõ ràng nhất.
Chữ ở với như là Hùng đã có chia sẻ chữ ở với nói về sự phân biệt rất là rõ ràng giữa ngôi Lời và Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời Cha. Con không phải là Cha và Cha không phải là Con, nhưng Con và Cha đều là Đức Chúa Trời. Mọi người hiểu ý chỗ này không? Khác nhau hoàn toàn. Và chúng ta cũng phải phân biệt khi mà chúng ta đọc Kinh Thánh à chúng ta phân biệt đây cũng có là một à học thuyết về việc mà hạ thấp cái vị thế của Chúa Giêsu à khi mà dùng và lập luận và giải kinh những đoạn Kinh Thánh nói về việc mà Chúa Giêsu ồ ta Chúa Giêsu nói nhiều lần gì? Ta là con đúng không?
Ta vâng lời Cha, rồi ta là con sẽ vâng theo ý Cha mà thôi, à không có Cha đúng không? Cha cao trọng hơn ta. Tức là dùng những cái cách giải kinh đó để giải thích cái việc mà hạ thấp Chúa Giêsu. Thì đây là điều mà chúng ta cần phải phân biệt giữa chức vụ và bản thể. Chúa Giêsu thấp hơn Chúa Cha về chức vụ. Chúa Cha là người sai phái.
Chúa Giêsu là người được sai phái và Đức Thánh Linh làm cho cái điều đó hiện hữu. Và trong cái chức vụ Chúa Giêsu thấp hơn và đó là lý do tại sao Chúa Giêsu dùng những từ có vẻ như làm cho chúng ta hiểu nhầm về vị trí thấp hơn của mình. Nhưng bản thể của Chúa Giêsu như là sách Giăng là là Đức Chúa Trời. Chúng ta phải phân biệt được hai điều này giữa chức vụ và bản thể. Chúa Giêsu có chức vụ dưới đất, có lý do ở trên đất, đúng không? Chứ không phải là Chúa Giêsu không không tự nhiên đi xuống đất rồi đi so sánh giữa mình với cha để cho người ta hiểu nhầm.
Chúa Giêsu có chức vụ ở dưới đất này. Và Chúa Giêsu đang nói về chức vụ của mình sẽ thấp hơn ở trong cái vai trò được sai phái bởi Đức Chúa Trời Cha. Và Hùng hy vọng mọi người hiểu cái điều này để không có bị nhầm lẫn giữa những cái từ ngữ giải kinh hoặc là những cái lập luận theo cách đó để hạ thấp về thân vị của Chúa Giêsu. Vì Chúa Giêsu là Đức Chúa Trời. Và ngày nay có rất là nhiều người sử dụng lập luận đó để không tin vào thần tính của Chúa Giêsu. Họ tin vào Đức Chúa Trời nhưng không tin vào thần tính của Chúa Giêsu.
Và họ hiểu theo nghĩa sinh học cha và con. Nhưng đó là ngôn ngữ để phân biệt chứ không phải là ngôn ngữ sinh học theo như cách hiểu của mình. Câu ba: Muôn vật đều do Ngài tạo dựng, không một loài thọ tạo nào được tạo dựng mà không bởi Ngài. Đây là đoạn Thánh Kinh chỉ ra ngôi lời Chúa Giêsu chính là Đức Chúa Trời và Chúa Giêsu sáng tạo nên vạn vật. Đây là đoạn Thánh Kinh không nói về ngôi lời là công cụ trong tay của Đức Chúa Trời để tạo nên vạn vật. Nhưng đây là đoạn Kinh Thánh nói về Chúa Giêsu và Đức Chúa Trời tạo nên vạn vật.
Sự hành động hiệp nhất giữa Đức Chúa Trời Cha và Đức Chúa Trời Con trong sự sáng tạo. Ở đây mọi người để ý có một cái sự tương phản về mặt ngữ pháp rất là thú vị. Thứ nhất dùng một câu khẳng văn dùng một câu khẳng định là gì? Muôn vật bởi Ngài mà được tạo dựng, đó là câu khẳng định, đúng không? Toàn bộ vũ trụ từ những ngôi sao lớn nhất cho đến những vật thể nhỏ nhất từ hạt cát cho đến con voi hay là những kỳ quan mà chúng ta có thể nhìn thấy và quan sát bằng mắt đều do Ngôi Lời làm ra tạo ra. Nhưng mà ngay sau đó là một câu phủ định.
Không một loài thọ tạo nào được tạo dựng mà không bởi Ngài. Đây là một cái cấu trúc ngữ pháp rất là thú vị. Đầu tiên là khẳng định. Đoạn sau là phủ định của khẳng định, đúng không? Muôn vật đều do Ngài tạo dựng, sau đó là không một loài thọ tạo nào được tạo dựng mà không bởi Ngài. Thì cái ý nghĩa chỗ này là gì?
Nó giống như là lặp lại hơi bị rối. Nhưng mà không phải. Đây là khóa chặt mọi ngoại lệ. Không ví dụ tất cả học sinh trong trường đều phải tham gia kỳ thi, đó là câu khẳng định, đúng không? Và không một ai dù chỉ là một người được phép vắng mặt, đó là câu phủ định. Khi mà nói đến cái câu này có nghĩa rất mạnh mẽ về cái tính chất của cái kỳ thi này, buộc phải không thể có ngoại lệ nào được vắng mặt.
Thì đây chính là cấu trúc ngữ pháp mà văn sử dụng, câu khẳng định và câu phủ định để khóa mọi ngoại lệ. Tức là không có bất cứ một ngoại lệ nào. Làm vạn vật được sáng tạo bởi sự hiệp nhất của ngôi lời và Đức Chúa Trời Cha. Không có ngoại lệ nào ở đây. Đây là sự nhấn mạnh tuyệt đối để không có bất cứ một ngoại lệ nào. Một máy may vật chất hay năng lượng nào tự nhiên mà có.
Đúng không? Ngữ pháp này để khẳng định và nhấn mạnh một điều không có một cái thứ gì tự nhiên mà ra cả. Và đây chính là trọng tâm của cái cách ngữ pháp này mà Giăng đã sử dụng. Nên có rất là nhiều người cho rằng, đúng không, một vài người cho rằng thế giới này tự nhiên được tạo ra. Tự nhiên được hình thành. Và một trong những quan điểm rất là nổi tiếng của Phật Phật giáo, đó là đúng không, cái này sinh cái kia diệt, rồi cái này sinh cái kia diệt, không có điểm khởi đầu cũng chẳng có điểm kết thúc.
Mọi thứ cứ tự nhiên như vậy. Còn vô thần là gì? Mọi thứ cứ tự nhiên hình thành. Bởi vì họ cũng không thể trả lời được đâu là điểm khởi đầu và đâu là điểm kết thúc. Đó là lập luận vòng quanh. Và Hùng à khi mà nghiên cứu về Phật giáo Hùng đặt ra câu hỏi nếu mà một mọi thứ tự nhiên được sinh ra chết đi rồi có một thứ khác được sinh ra nối tiếp nhau liên tục như vậy.
Ok. Rồi, Hùng cho rằng cái điều đó là đúng. Thì cái câu hỏi của Hùng là gì? Ai khẳng định điều đó là đúng? Thì nếu mà nói là Phật khẳng định điều đó là đúng, thì Phật phải ở trong thời gian, trước thời gian, sau thời gian thì mới biết được cái thứ đó là đúng. Nhưng Phật là một hoàng tử đúng không?
Một con người. Thì nếu mà một người đưa ra cái kết luận đó có nghĩa là họ ở trong thời gian, ở trước thời gian, ở sau thời gian thì mới quan sát và rút ra được cái kết luận đó. Và ông cũng đặt lại vấn đề, ok. Mình hay nói Phật là bậc giác ngộ. Rồi. Ai xác nhận Phật là bậc giác ngộ?
Ai xác nhận điều đó? Có hai kịch bản xảy ra. Thứ nhất, tự tuyên bố mình là bậc giác ngộ bằng chính trải nghiệm của chính cá nhân của mình, tự tuyên bố. Điều thứ hai được đúc kết bởi các đệ tử, tức là những người đi sau. Ok. Những người đi sau là những người chưa giác ngộ thì làm sao kết luận rằng người sư phụ của mình là đã giác ngộ?
Đúng không? Tại sao cái điều đó là rất thú vị và cái điều đó rất là giúp cho chúng ta, đúng không? Không có bị lôi cuốn vào những điều có vẻ như rất là hấp dẫn với triết lý và tâm lý của mình. Rồi. Mục tiêu của pháp Phật pháp đó là gì? Mình phải ra khỏi sự bám chấp, đúng không?
Để vào niết bàn. Tức là mình phải trở nên rỗng không và trống không để vào được niết bàn. Đúng không? Ok. Rồi, nếu mình là trống không thì làm sao mình có cái khao khát để vào niết bàn? Bởi vì cái khao khát là cái mà họ đang rao giảng là cần phải loại bỏ.
Đúng không? Bởi vì cái khao khát vẫn là một cái bám chấp của con người, con người vẫn có dục vọng, vẫn có khao khát thì mình phải loại bỏ cái khao khát đó thì mới vào được niết bàn. Thì mình có cái khao khát đó để vào niết bàn cũng chính là cái khao khát mà mình cần phải loại bỏ. Mình thấy lập luận vòng quanh không? Tự mâu thuẫn. Và điều đó sẽ giúp cho chúng ta tỉnh táo.
Mà chúng ta phân biệt được đâu là điều thực sự là chân lý của Đức Chúa Trời và đâu là lập luận của con người được theo dệt được huyền bí hóa được thành thánh hóa và thiêng liêng hóa làm cho nên trở thành một cái mà đúng không? Mác nói là gì? Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Trở thành một chất gây nghiện mà chúng ta không biết. Chúng ta nghiện cái cảm giác tâm linh hơn là chúng ta gắn bó mình với Đức Chúa Trời. Với chân lý của Ngài trong Kinh Thánh.
Nhưng mà chúng ta thích cái cảm giác của tâm linh. Và đó là điều mà chúng ta cần phải rất là cẩn trọng. Nhân chứng Giê-hô-va nói Đức Chúa Trời được tạo nên. À, ngôi lời được tạo nên. Tức là Chúa Giê-su được tạo nên. Nhưng đoạn Kinh Thánh này cũng phản bác cái điều đó.
Nếu mà Chúa Trời, Chúa Trời đúng không? Ngôi lời không thể tự tạo nên mình là tạo vật. Đúng không? Bởi vì Thánh Kinh nói không một loại thọ tạo nào được tạo dựng mà không bởi Ngài. Thì nếu nói Chúa Giê-su là một tạo vật của Đức Chúa Trời thì nó lại mâu thuẫn với cái câu này. Câu này nói là không một loại thọ tạo nào được tạo dựng mà không bởi Ngài.
Nên Chúa Giê-su không thể tự tạo nên mình và gọi là tạo vật. Nên chúng ta cẩn trọng với rất là nhiều giáo lý nền tảng à giải thích thần học của rất là nhiều người, nhiều nhóm, nhiều cộng đồng và nhiều giáo phái khi mà sử dụng kinh thánh chúng ta đảm bảo có sự học hỏi đối chứng, kiểm chứng kiểm tra chéo, học hỏi những người có cái sự học hỏi nhiều hơn, lớn hơn từ nhiều nguồn hơn để kiểm chứng sự học hỏi của mình là đúng đắn dù đó chỉ là một cái phần nhỏ nhưng cái giải thích là hoàn toàn khác nhau. Nếu Chúa Giêsu chỉ là một tạo vật thì cái chết của ngài vô nghĩa rất vô nghĩa cho dù đó là một tấm gương hy sinh lớn lao, vĩ đại, đạo đức nhưng cũng vô nghĩa nếu Chúa Giêsu chỉ là một tạo vật chỉ có ý nghĩa khi Chúa Giêsu chính là Đức Chúa Trời câu 4, câu 5 trong ngài có sự sống sự sống là ánh sáng cho loài người ánh sáng soi trong bóng tối nhưng bóng tối không tiếp nhận ánh sáng trong thánh kinh à có hai từ chỉ về sự sống, thứ nhất là sự sống về sinh học vật chất và sự sống về tâm linh thiên thượng và vĩnh cửu thì Giăng sử dụng chữ thiên thượng và vĩnh cửu, sự sống để khẳng định ngôi lời chính là sự sống sự sống là ánh sáng cho loài người sự sống của Chúa Giêsu bày tỏ qua chính ánh sáng phô bày ra bên ngoài đó chính là ánh sáng ánh sáng ở đây mang ý nghĩa thần học về sự mặc khải có nghĩa là gì? Làm cho con người nhận biết chân lý chứ ánh sáng không phải chỉ là soi cho nó sáng nhưng ý nghĩa thần học của chữ ánh sáng ở đây có nghĩa là làm cho người, con người nhận biết chân lý nhận biết Đức Chúa Trời nhận biết mục đích cao và phạm vi là cho loài người, tức là cho tất cả mọi người.
Cái a ngữ pháp của cái chỗ này đó là ánh sáng đang soi sáng chứ không phải là đã soi sáng và sẽ soi sáng, nhưng mà là đang. Có nghĩa là ngay khi chúng ta đang đọc cái lời này ánh sáng của Đức Chúa Trời đang soi sáng. Một vài ngụy biện của một vài nhóm và giáo phái khi họ đọc cái đoạn văn này nói là ánh sáng soi sáng cho tất cả mọi người, họ tin rằng ở bên trong họ có một thứ ánh sáng. Và ánh sáng đó đủ để họ có thể thứ nhất trường phái thứ nhất là là New Age. Đúng không? Họ chính là Đức Chúa Trời.
Họ có một phần ánh sáng ở bên trong để chiếu sáng cuộc sống của họ. Họ chính là ánh sáng, họ chính là Đức Chúa Trời. Và thứ hai những người tin vào Đức Chúa Trời nhưng mà tin vào cái lối giải nghĩa rằng đúng không? Ánh sáng đã chiếu rọi vào mình, tức là bên trong mình có dù có một ít ánh sáng để ánh sáng đó để mình chọn Thượng Đế là điều không đúng. Con người bại hoại hoàn toàn không có khả năng chọn Thượng Đế. Nên nhiều người giải kinh cái đoạn này nói rằng ánh sáng của Ngài chiếu sáng mọi người, tức là gì?
Trong mỗi người có một cái gì đó vẫn còn ánh sáng đó để ánh sáng đó giúp cho mình chọn Đức Chúa Trời. Và kịch bản số hai của một trường phái New Age là ánh sáng đó ở chiếu rọi bên trong lòng của chúng ta, họ lấy một cái khái niệm rất là trừu tượng, ở bên trong tay chúng ta có ánh sáng. Đúng không? Ánh sáng đó giúp chúng ta ngộ ra rất là nhiều điều trong cuộc sống, à nhận thức ra được nhiều điều, à được khai sáng, à được à đúng không? Được khơi gợi trí óc để có thể nhìn nhận và thấy được thấu suốt những điều, đúng không? Họ bắt đầu thêu dệt nên một hình thức ngộ đạo mới thời hiện đại.
Những người nghĩ và tin rằng họ có một thứ ánh sáng tuyệt vời ở bên trong để có thể nhìn thấy bản chất của đời, của vũ trụ, của những điều thiêng liêng. Và mọi thứ trở nên huyền bí với cái lập luận của họ. Và cái sự tự tin của họ là như vậy. Và họ dạy rất là nhiều về à thuyết về vũ trụ, về thần số học, về thần học, à đúng không? Vũ trụ ở trong bạn, hãy lắng nghe vũ trụ, hãy kết nối với vũ trụ. Hãy gọi vũ trụ, hãy cầu nguyện với vũ trụ.
Nhưng mà ánh sáng ở đây Giăng sử dụng chính là ánh sáng mặc khải làm cho con người có thể nhận biết được chân lý, nhận biết được Đức Chúa Trời và mục đích của sự sáng tạo, chứ không phải là thứ ánh sáng mà họ nghĩ rằng họ có sẵn. Và Thánh Kinh nói rất là rõ trong Ngài, đúng không? Tức là chỉ trong ngôi lời mới có ánh sáng. Và ánh sáng đó ở cùng với ngôi lời. Ngôi lời chính là nguồn sáng. Và điều đó nó cũng nói đến những tuyên bố khi mà mọi người đọc sau này trong sách Phúc Âm Giăng, tuyên bố một trong những bảy tuyên bố rất là mạnh mạnh mẽ của Chúa Giêsu, ta là ánh sáng.
Nên chúng ta chỉ là những ngọn đèn được thắp sáng, chứ chúng ta không phải là nguồn sáng. Chúng ta chỉ là những ngọn đèn được thắp sáng. Và khi đã được thắp sáng thì hãy để lên giá đèn, đừng có đậy nó lại bởi vì sự hèn nhát và sợ hãi. Ánh sáng soi trong bóng tối nhưng bóng tối không tiếp nhận ánh sáng. Ở trong này có một sự chơi chữ, cái từ không tiếp nhận ánh sáng có hai nghĩa. Thứ nhất là không hiểu, không tiếp nhận.
Thế gian chìm trong bóng tối, mù lòa và không thể nhận biết hay tiếp nhận mặc khải của ngôi lời, đó là nghĩa thứ nhất. Nên điều này đập tan đi cái suy nghĩ rằng là trong chúng ta có một chút gì đó hay là le lói một cái thứ ánh sáng gì đó để giúp cho mình có thể chọn tin vào Chúa Giêsu. Nên mọi người cùng đọc Thánh Kinh nhưng không có nghĩa là tất cả mọi người đều chọn tin vào Chúa Giêsu. Bởi vì Thánh Kinh ngay trong cái câu 4 5 này làm rõ một điều là gì? Thế gian không tiếp nhận ánh sáng. Nên không phải tất cả mọi người đều tiếp nhận Chúa Giêsu.
Cái nghĩa thứ hai của từ này có nghĩa là không thắng nổi ánh sáng. Không dập tắt được, không đè bẹp được. Bóng tối có quyền lực của nó nhưng bóng tối hoàn toàn bất lực và thất bại trước thập tự giá là ánh sáng của Chúa Giêsu phục sinh đập tan vĩnh viễn quyền lực của bóng tối. Nên chính điều này cũng đập tan cái tư tưởng nhị nguyên là gì? Thế giới đang tồn tại một mảng đen và một mảng trắng bằng nhau, đánh nhau. Mình ủng hộ cho bên nào thì bên đó thắng.
Đó là tư tưởng sai lầm và đây cũng là điều mà được dạy dỗ trong rất là nhiều giáo hội và cộng đồng tôn giáo, cộng đồng Cơ Đốc giáo và coi Thượng Đế và Satan như hai đối thủ ngang hàng. Cùng một vị trí, cùng một ngang hàng về mặt quyền lực và sức mạnh và đánh nhau mỗi ngày. Cứ mỗi ngày mình thức dậy là hai bên đánh nhau. Và đó là sự sỉ nhục Đức Chúa Trời. Tất cả mọi thứ đều ở dưới quyền năng của Đức Chúa Trời. Không phải là hai mạng bằng nhau và tranh đấu với nhau.
Và Hùng cũng được nghe những người đã từng dạy cho Hùng về Kinh Thánh lập luận về điều này. Mỗi ngày hai bên đánh nhau. Mình ngả vào bên nào thì bên đó thắng. Mình nuôi phía nào thì phía đó thắng. Đây là một sự phỉ báng hình ảnh và sự tệ trị của Đức Chúa Trời. Sự tệ trị của Đức Chúa Trời là tuyệt đối.
Không có bất cứ một điều gì ngang hàng, bằng vai phải lứa mà phải đấu tranh với Thượng Đế ở đây cả. Thượng Đế tuyệt đối cai trị. Và Thánh Kinh, ý nghĩa của cái chỗ này có hai nghĩa là không tiếp nhận và nghĩa thứ hai là không thể khuất phục được ánh sáng. Và đó là lý do tại sao mọi người đọc trong Phúc Âm thì khi mà Chúa Giêsu thấy những đúng không? Đối thoại với những người môn đệ quay trở về sau khi đi truyền giáo, Chúa Giêsu nói, "Ta thấy Satan từ trời sa xuống." Sự hiện diện của Chúa Giêsu, cái chết của Ngài trên thập tự giá và sự phục sinh, đó chính là ánh sáng. Và ánh sáng đó đang hiện hữu.
Nên ngày hôm nay chúng ta cảm thấy có một sự dè dặt hay e sợ, một cái mảng tối nào đó có vẻ như đang tranh đấu với Chúa Giêsu hay hay hình ảnh minh họa hay là phim ảnh mô tả về một trạng thái hai bên đối lập giằng xé với nhau là điều không đúng về hình ảnh và sự tể trị của Đức Chúa Trời. Chúng ta có đấu tranh chứ Đức Chúa Trời tuyệt đối trị vì. Đức Chúa Trời là đấng tối cao Ngài không có đối thủ ngang hàng. Bóng tối không phải là một nguyên lý vĩnh cửu. Bóng tối trong ẩn dụ của Giăng nói về sự khước từ Đấng sáng tạo không tin vào Chúa Giêsu thì đó là bóng tối. Nhị nguyên trong Giăng những cái mảng đối lập về tối sáng giữa thế giới và tâm linh đó là nhị nguyên quyết định, tức là Giăng đưa ra hai cái mệnh đề để chúng ta lựa chọn.
Những người thuộc về ánh sáng sẽ chọn điều thuộc về ánh sáng chứ không phải là nhị nguyên để mô tả về hai thế giới sáng tối cân bằng nhau và đang giằng xé nhau mỗi ngày. Đó là tư tưởng ngộ đạo không đúng và nó cũng tồn tại trong một vài truyền thống tư tưởng. Giăng 1:15 Giăng thứ nhất, chương 1. Giăng thứ nhất, chương 1, câu 5. Đây là sứ điệp tôi đã nghe nơi Ngài và công bố cho anh em Đức Chúa Trời là ánh sáng trong Ngài không có bất cứ bóng tối nào. Nên chúng ta không đang sống trong hai quyền lực của thế giới ngang hàng, ngang sức.
Chúng ta đang sống trong sự tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời và Ngài là ánh sáng. Và Ngài đã thắng thế gian. Không phải tất cả mọi người đều được cứu. Thuyết phổ độ hay là thuyết phổ quát dùng câu văn 145 tức là ánh sáng chiếu cho mọi người có nghĩa là mọi người đều được cứu rỗi. Đó là điều không đúng. Khi mà trích dẫn à ngắt ngắt quãng ngắt đoạn để mà lập luận và trở thành một giáo lý cho mình.
Bởi vì ngay câu sau đó Thánh Kinh nói Giăng nói là thế giới bóng tối không tiếp nhận ánh sáng. Ngụy biện tâm lý trị liệu biến ánh sáng trở thành một cái thứ gì đó là tư tưởng tích cực hay là sự giác ngộ ở bên trong hay là một cái liệu pháp gì đó bên trong chiếu sáng ở bên trong lòng của mình. Ánh sáng ở trong Giăng luôn gắn với nguồn của nó đó chính là Chúa Giê-su. Không phải là một cái thứ giác ngộ gì đó bên trong lòng con người để nói rằng con người giác ngộ được một điều gì đó từ chính ánh sáng của chính mình. Chúng ta cảnh trọng với những sự truyền giáo hay sự rao giảng điều đó. Cô-lô-se chương 2 từ câu 8 đến 9 hãy cẩn thận kẻo có ai gài bẫy anh em bằng triết học và lời hư không lừa dối theo truyền thống loài người theo các nguyên lý sơ đẳng của thế gian mà không theo Đấng Christ.
Vì trong Ngài sự đầy trọn của thần tính ngự trị cách hữu hình. Hãy cẩn trọng với những gì mà chúng ta được nghe, được rao giảng lẫn lộn giữa gần với sự thật với sự thật ở trong thế giới mà chúng ta đang sống. Chúng ta đang sống trong ánh sáng của Chúa. Và ánh sáng đang tể trị. Nên không có một thế lực nào có thể đánh bại được ánh sáng này. Nhưng nếu chúng ta thuộc về Đức Chúa Trời thì không có điều gì đánh bại được.
Bởi vì thực sự chúng ta bám víu vào ánh sáng đó chính là Chúa Giêsu. Và Hùng quay trở lại câu hỏi mà Hùng có gửi cho mọi người để suy ngẫm. Hùng hy vọng mọi người có thời gian để suy ngẫm về những điều này. Nếu Ngôi Lời là tự hữu vĩnh cửu và là Đấng trực tiếp sáng tạo nên vũ trụ thì lý do thực sự nào khiến bạn vẫn đang sống, lập kế hoạch và hành động như thể chính cái tôi của bạn mới là trung tâm? Hùng hy vọng chúng ta không đến đây với lớp học thần học để biết thêm về Kinh Thánh. Hùng hy vọng chúng ta đang ở trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
Chúng ta không đến đây để tích lũy thông tin hay là tri thức. Chúng ta đến đây để hạ mình trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Và Hùng mong Hùng hy vọng mình có cùng một thái độ đó mỗi ngày, mỗi giây, mỗi phút chúng ta sống. Đức Chúa Trời, Đấng sáng tạo nên vũ trụ và vạn vật, Chúa Giêsu thì Ngài chính là trung tâm. Có một câu nói mà Hùng rất là yêu thích. Con người ta hay mang, đúng không?
Hay nghĩ tới Đức Chúa Trời là một phần trong kịch bản sống của mình. Nhưng mà chúng ta không nghĩ tới mình chỉ là một phần nhỏ bé trong kịch bản của Ngài, kịch bản trong ngoặc kép. Chúng ta chỉ là một phần trong cuộc đời của Ngài, cuộc đời trong ngoặc kép. Nhưng mà nhiều người rất thích mang Đức Chúa Trời trở thành một phần trong cuộc đời của mình. Câu số hai, ánh sáng chiếu vào bóng tối nhưng bóng tối không tiếp nhận ánh sáng. Có góc khuất hay tội lỗi giấu kín nào trong suy nghĩ và hành vi của mình đang cố tình lẫn tránh, chống trả và không muốn bị ánh sáng của Đấng Christ phơi bày?
Hãy đảm bảo chúng ta thực sự là con cái của ánh sáng. Bạn chọn tiếp tục bám giữ vào những ảo tưởng kiểm soát trong bóng tối của bản ngã hay chấp chấp nhận hạ mình trong sự đầu phục trọn vẹn với quyền cai trị tối cao của ngôi Lời ngày hôm nay? Nhiều người thích Chúa Giêsu là Chúa, không thích Chúa Giêsu là chủ. Nhiều người thích lợi ích từ Chúa Giêsu, nhưng mà không thích chịu sự cai trị của Chúa Giêsu. Nhiều người thích đọc Kinh Thánh, nhưng mà không phải nhiều người thích sự hạ mình trong ngôi Lời. Hãy đảm bảo rằng chúng ta thực sự là con cái của ánh sáng.
Okay? Đó là Giăng chương 1 từ câu 1 đến 5. Cũng có một vài từ vựng mới, một vài cái a hơi trừu tượng, nên đó là cũng trong là một những lý do mà Hùng nói chậm hơn. À từ từ hơn một chút. Bởi vì chính Hùng cũng có một vài cái khó khăn nho nhỏ về mặt ngôn ngữ khi mà chúng khi mà Hùng à nghiên cứu về Phúc Âm Giăng. Nhưng mà càng nghiên cứu Hùng càng cảm thấy à mình được mở ra rất là nhiều điều à để nhìn thấy thực sự một Đức Chúa Trời rất khác à qua lăng kính của à Phúc Âm Giăng.
Okay? Mình kết thúc ở đây. Ừ.
Thảo luận
Chia sẻ suy ngẫm hoặc góc nhìn của bạn về bài viết — không cần đăng nhập.
Đang tải bình luận…